Chương 44 : 6150 chữ ⚆ _ ⚆
Mùa đông ở vùng nông thôn Bourgogne (*), trời tối rất sớm. Trước lúc đó, mặt trời vẫn còn đỏ rực treo nơi cuối vườn nho, thiêu đốt cả bầu trời thành một màu vàng kim.
(*) Bourgogne là một lãnh thổ lịch sử và khu vực hành chính cũ và tỉnh của miền trung đông nước Pháp. Tỉnh này từng là quê hương của Công tước xứ Bourgogne từ đầu thế kỷ 11 cho đến cuối thế kỷ 15
Bốn bề trang trại rượu vang phủ một lớp sương muối mỏng trắng xóa, dù cả ngày trôi qua cũng không tan đi. Nhìn từ xa, trông nó nhem nhuốc, tựa như sắc xám trầm uất trong một bức tranh sơn dầu cũ.
Phó Uyển Thanh ngồi trên chiếc ghế cạnh bàn, một bên chân co lại đè dưới thân. Người thiếu khí huyết thì tư thế ngồi cũng khó mà đoan trang được, luôn có vài động tác nhỏ như nhón chân. Quyển sổ tay học tiếng Pháp mở ra bên cạnh, cô lật từng trang một.
Ngôi nhà này không lớn, gồm hai tầng trên dưới, là do chủ trang trại rượu vang để lại. Tường nhà dày đến kinh người, đông ấm hạ mát.
Nhìn ra ngoài cửa sổ là một vườn nho trải dài liên miên, những cành nho được cắt tỉa trơ trụi, gió thổi qua phát ra tiếng xào xạc trống trải.
Phó Uyển Thanh chuyển đến đây đã hơn nửa năm. Ngay ngày hôm qua, khoản học bổng bị kẹt lại rất lâu của cô cuối cùng cũng đã hoàn tất thủ tục đăng ký.
Con đường giành học bổng toàn phần ở Cambridge không chỉ có một, sự cạnh tranh trong ngành nhân văn đặc biệt khốc liệt. Với nguyên tắc “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” , cô đã nộp đơn vào tất cả những nơi có thể nộp, không chỉ giới hạn ở Trinity College, ngay cả King’s College (*) cô cũng nộp đơn, nghe nói nơi đó khá ưu ái cho định hướng văn học.
(*) Đại học King’s College London tọa lạc tại thủ đô của nước Anh – London
Tài liệu chuẩn bị cho việc nộp hồ sơ Tiến sĩ cũng được gom góp từng chút một như vậy. Thứ được bắt tay làm sớm nhất là thư giới thiệu. Cô đã liên hệ với vị giáo sư thời học Thạc sĩ, và một học giả cô từng quen biết trong chuyến trao đổi văn hóa ở New York trước đây; cô từng thuyết trình một lần trong buổi hội thảo của ông. Sau khi bài thuyết trình kết thúc, ông đã đặc biệt giữ cô lại, khen ngợi ngôn ngữ của cô rất có tính khơi gợi và mang đậm màu sắc cá nhân, hai người đã trò chuyện thêm hơn bốn mươi phút.
Phó Uyển Thanh thử liên hệ qua email, hỏi ông xem có thể viết thư giới thiệu cho mình không.
Vị học giả bận rộn, vài ngày sau mới phản hồi: “Là cô à, dĩ nhiên rồi.”
Phần cốt lõi còn lại chính là bản đề cương nghiên cứu. Cô đã sửa đi sửa lại, giằng co hơn mười lần, cô đọng lại còn khoảng hai nghìn chữ.
Ngày chốt bản thảo thời tiết rất đẹp, ánh nắng xiên qua khe rèm cửa sổ, rọi xuống tập giấy nháp của cô.
Phó Uyển Thanh ngẩng đầu lên, mới nhận ra mùa thu đã qua rồi.
Cô út vẫn còn việc kinh doanh ở Mỹ, thỉnh thoảng mới đến thăm cô một chuyến. Cô cần mua gì thì tự mình lái xe đến siêu thị trong khu trung tâm thị trấn, mỗi tuần một lần.
Thời gian trước, sau khi mua sắm xong trở về, cô đi ngang qua một tiệm sách cũ, lật xem một cuốn《Đỏ và Đen》nguyên tác tiếng Pháp. Đó là bản phục chế từ bản gốc năm 1831, cô không hiểu rõ lắm, cứ ngỡ đó là bản gốc đích thực nên hứng thú bừng bừng hỏi chủ tiệm. Nhưng chủ tiệm nói với cô rằng bản gốc từ lâu đã không thể mua được nữa, muốn có thì phải đến thị trường sách cổ sưu tầm, nhưng giá cả của nó vô cùng đắt đỏ.
Dù sao cũng đang rảnh rỗi, dựa vào chút tiếng
Pháp từng học lớp tự chọn thời đại học, cô vừa tra từ điển vừa đọc từng trang một.
Phó Uyển Thanh ngậm nắp bút trong miệng, nhíu mày, nhìn chằm chằm vào dòng chữ trên sổ tay rất lâu. Mỗi danh từ trong tiếng Pháp không phải giống cái thì là giống đực, cô đã học thuộc lòng bao nhiêu đuôi từ như vậy rồi mà vẫn thường xuyên bị nhầm lẫn.
Sau đó, cô cúi đầu hỏi chiếc điện thoại của mình: “Ừm, bạn… là giống cái hay giống đực vậy?”
Hỏi xong không lâu thì “hắt xì” một tiếng.
Phó Uyển Thanh cả người rướn về phía trước, hắt hơi một cái rõ to.
Cô vội vàng đứng dậy, đi tìm một chiếc áo khoác mặc vào.
Đi đến bên giá treo quần áo, Uyển Thanh nhìn ra bên ngoài, có một người phụ nữ đang hỏi đường. Sau khi quan sát một lúc, cô vội vã chạy xuống lầu.
Mở cổng sân ra, cô đứng bên cạnh hàng rào dậu tre gọi lớn: “Tổ Giai, ở đây này!”
“Được, đến đây.” Tổ Giai nhìn thấy cô, liền nói lời cảm ơn với bà lão bên cạnh, rồi đẩy vali rảo bước nhanh hơn vài bước.
Phó Uyển Thanh đỡ lấy đồ đạc giúp cô ấy: “Mệt rồi phải không? Hôm nay tớ cứ đợi cậu suốt, đứng bên cửa sổ nhìn cả ngày trời, sao giờ mới đến thế.”
Vừa bước vào cửa, hơi ấm từ lò sưởi phả vào mặt, Tổ Giai lau mồ hôi: “Thế này là nhanh lắm rồi đấy. Chỗ này của cậu hoàn toàn là vùng nông thôn hẻo lánh. Tớ đến Paris, còn phải ngồi vài tiếng tàu hỏa, rồi lại đi thêm một đoạn đường nhỏ, cậu không thấy dọc đường tớ toàn phải hỏi thăm người ta à? Tìm mãi mới ra.”
”Cậu tìm được, chẳng lẽ người khác không tìm được sao?” Phó Uyển Thanh dẫn cô ấy vào nhà, “Mau ngồi đi, tớ rót cho cậu ly nước.”
Cô bưng ly nước, rất nhanh đã trở lại, đưa vào tay Tổ Giai.
Tổ Giai uống một hơi cạn sạch, rồi hỏi: “Ai tìm cậu cơ? Anh bạn trai thương gia giàu có đó của cậu á?”
”Tớ chỉ là lo lắng thôi,” Phó Uyển Thanh chậm rãi chớp mắt, “Nhưng đã lâu rồi không có tin tức gì của anh ấy, coi như là tin tốt đi.”
Tổ Giai đặt ly nước xuống, đứng dậy, bắt đầu tham quan một vòng quanh tầng một.
Hai cánh cửa sổ lớn kiểu Pháp đẩy ra phía ngoài, trên bậu cửa sổ đặt một chậu hoa oải hương được Phó Uyển Thanh chăm sóc có chút héo úa, nhưng vẫn kiên cường giữ lại vài chùm hoa sắc tím.
Dấu vết duy nhất cho thấy có một cô gái Trung Quốc đang sinh sống ở đây là một bức tranh thủy mặc treo trên tường. Cảnh vật trong tranh như thể mô phỏng lại phong cảnh ngoài cửa sổ, cùng với thỏi mực đọng chưa khô hẳn trong nghiên, vừa đen vừa bóng.
Tổ Giai đứng trước bức tranh đó nhìn rất lâu, bảo rằng nhìn không hiểu.
“Nhìn không hiểu là đúng rồi, đó là tớ vẽ tùy hứng thôi, trình độ nửa mùa ấy mà, vẽ chẳng giống ai cả.” Phó Uyển Thanh nói.
”Hồ sơ nộp vào các trường thế nào rồi?” Tổ Giai lại hỏi.
Cô nói: “Cứ từng bước một thôi, còn phải đợi đến tháng Ba, tháng Tư năm sau. Dù sao thì chứng nhận học vị, bảng điểm, kinh nghiệm xuất bản tớ đều đã sắp xếp ổn thỏa rồi. Tớ cũng đã liên hệ với hai người hướng dẫn, một người nghiên cứu về Chủ nghĩa hiện đại và Văn học thế giới, người còn lại những năm gần đây chuyển sang nghiên cứu về Văn học Hoa ngữ và Văn hóa Chiến tranh Lạnh, cả hai đều đã phản hồi tớ rồi.”
Đến lúc tổng hợp lại mới phát hiện số luận văn cô đã xuất bản thực sự quá ít, chỉ có vỏn vẹn một bài, may mắn là được đăng trên tạp chí hàng đầu, không biết có đủ để gánh vác hồ sơ hay không. Vì vậy, ngay cả kinh nghiệm từng làm trợ lý thực tập hai năm tại một tạp chí văn học hồi học Thạc sĩ ở New York cô cũng đưa vào. Dù chỉ là làm việc vặt, nhưng quãng thời gian đó rất quan trọng, nó đã nhào nặn nên cảm quan ngôn ngữ của cô, không thể tùy tiện bỏ qua được.
Tổ Giai “ồ” lên một tiếng: “Ai phản hồi nhiệt tình hơn?”
Phó Uyển Thanh suy nghĩ một lát: “Chắc là người đầu tiên, vị giáo sư lớn tuổi đó khá hứng thú với định hướng nghiên cứu của tớ, còn cho tớ rất nhiều lời khuyên.”
Cô đưa một gói đồ ăn vặt từ trên bàn cho Tổ Giai: “Cậu có đói không, ăn lót dạ trước đi, tớ đang hầm canh nạm bò vang đỏ cho cậu, tầm này chắc được rồi, tớ vào bếp xem sao.”
”Trách không được thơm như thế.” Tổ Giai xé bao bì, hít hà một hơi thật mạnh.
Cô đứng bên cạnh bàn, nhìn Phó Uyển Thanh nhẹ nhàng lách người qua những chồng sách chất cao như núi khắp phòng.
Duyên phận của Tổ Giai và cô còn phải nói từ hồi ở Lâm Thành.
Năm đó, trong căn nhà bỏ trống bốn năm năm ở sát vách bỗng nhiên có một hộ gia đình dọn vào. Nghe giọng điệu thì giống như người từ Kinh thành đến, hàng xóm láng giềng đều bàn tán xôn xao, bảo rằng hai vợ chồng nhà này cộng thêm cô con gái trông diện mạo, khí chất và cách nói năng đều bất phàm, sao lại chạy đến nơi này sống. Sau đó, khi các luồng thông tin khớp lại mới biết, người ta chính là chính chủ, đây vốn dĩ là căn nhà cũ của tổ tiên nhà họ Phó.
Mọi người đều đoán mò ra rằng, chắc là Phó Tá Bang đã xảy ra chuyện gì đó ở Kinh thành nên mới đến đây để lánh sóng gió.
Chuyến đi lánh nạn này khiến nhà họ Phó không bao giờ rời đi nữa, mãi cho đến khi căn nhà bên bờ sông bị dỡ bỏ, tất cả mọi người mới dọn vào khu nhà tái định cư.
Tổ Giai lớn hơn Uyển Thanh nửa tuổi /Hời, thôi cứ để tớ-cậu đi/, thường thấy cô đến hỏi mẹ mình xem làm sao để tẩy sạch vết màu nhuộm bám trên đồng phục, hay xào cà chua thì nên cho bao nhiêu muối. Hai người học cùng một trường, nhưng Phó Uyển Thanh gần như chẳng nói chuyện với ai, lúc gặp nhau trên đường, cô cùng lắm chỉ gật đầu, mỉm cười rồi bước lướt qua bên cạnh.
Khi đó Tổ Giai liền cảm thấy, cô ấy có một khí chất và thần thái không thuộc về lứa tuổi này, cũng không có chủ đề gì chung để nói chuyện. Đợi nhiều năm sau, khi đã hiểu về quá khứ của cô, Tổ Giai mới bừng tỉnh hiểu ra, đó là vì cô ấy đã phải gánh chịu những bất hạnh không đáng có từ quá sớm.
Thời học sinh, cô chỉ nhớ Phó Uyển Thanh học hành rất khắc khổ, thành tích rất tốt. Khóa trên khóa dưới có không ít nam sinh thầm thương trộm nhớ cô, trong đó chẳng thiếu những người gia cảnh ưu tú, điều kiện vượt trội, nhưng thường nói chưa quá ba câu, sau khi Phó Uyển Thanh nhận ra ý đồ là sẽ lạnh lùng từ chối.
Sau này cô thi đỗ vào Đại học T, Tổ Giai bị mẹ lôi ra mắng đi mắng lại, bảo rằng con nhìn em gái nhà người ta xem, như thế mà người ta vẫn học giỏi được, con nhìn lại cái điểm số thi cử của con xem, nói ra chỉ thấy xấu hổ.
Mấy năm sau, cô cầm tấm bằng tốt nghiệp chuyên ngành Thiết kế thời trang của trường Cao đẳng, dựa vào chút tay nghề cắt may, vẽ rập học được ở trường, giấu bố mẹ cùng bạn bè đến New York. Hồ sơ rải đi mấy chục bản, ngay cả một cơ hội phỏng vấn cũng không thấy đâu. Thị thực sinh viên F1 của cô chỉ cho phép thực tập trong trường hoặc thực tập đúng chuyên ngành liên quan, nhưng cô từ sớm đã không đóng nổi học phí trường ngôn ngữ rồi. Lúc gặp Phó Uyển Thanh, cô đang làm việc chui lủi trong một cửa hàng quần áo do một ông chủ người Hàn Quốc mở.
Bà chủ chịu nhận cô là vì cô biết tiếng Trung, đầu óc lại linh hoạt, có thể đón tiếp khách du lịch Trung Quốc, và quả thực cũng có gu thẩm mỹ thời trang nhất định, biết rõ thành phần vải vóc, biết cách phối đồ, cái miệng lại khéo nói. Nhưng gom hết thảy các kỹ năng này lại thì tiền lương cũng chỉ được 15 đô la một giờ, để tránh bị tính là làm toàn thời gian, mỗi tuần cô cũng chỉ được xếp lịch làm 35 tiếng.
Khấu trừ tiền thuê nhà, thẻ tàu điện ngầm và tiền ăn uống, mỗi tháng Tổ Giai tích cóp chưa đầy hai trăm bạc.
Khi ấy Phó Uyển Thanh cũng thảm lắm, ngoài khoản học phí không thể động vào ra thì có thể coi là không một xu dính túi. Số tiền ít ỏi còn lại, sau khi thuê phòng và mua đủ nhu yếu phẩm hàng ngày thì chỉ đủ để ăn bánh mì gối qua ngày.
Hai người họ thuê chung phòng với nhau, Phó Uyển Thanh đi sớm về muộn mỗi ngày. Sau khi tẩy sạch mùi dầu mỡ của nhà bếp trên người, cô lại ngồi vào chiếc bàn nhỏ đọc sách, nghiền ngẫm hồ sơ đăng ký nhập học Thạc sĩ của mình. Có đôi lúc mệt đến mức gục xuống là ngủ thiếp đi, đợi đến khi tỉnh dậy lại tiếp tục gõ chữ trước máy tính.
Vừa vào đông, hoàn cảnh lại càng thêm khó khăn.
Một ngày nọ Phó Uyển Thanh trở về, nhìn thấy Tổ Giai đang cuộn tròn trên chiếc giường đơn, một bên mặt sưng to đến mức bóng loáng lên.
Phó Uyển Thanh kiểm tra cho cô một chút, một chiếc răng khôn ở phía sau bên trái đã sưng thành một cục cứng, kéo theo cả vùng cằm cũng bị biến dạng, người lại còn đang phát sốt.
Cô đi mua Ibuprofen cho Tổ Giai để tạm thời giảm đau chút ít, nhưng tiền của cả hai người gộp lại cũng chẳng còn tới bốn trăm đồng có thể sử dụng, mà khám răng cấp cứu ít nhất cũng phải từ năm sáu trăm trở lên, chưa nói tới việc Tổ Giai căn bản không hề có bảo hiểm.
Phó Uyển Thanh không ngừng nghĩ cách, cô nói: “Ở Flushing có một phòng khám do người Hoa mở, có thể sẽ rẻ hơn một chút, tớ đi hỏi thử xem.”
”Ầy, bên ngoài tuyết rơi lớn lắm, cậu đừng đi nữa.” Tổ Giai giữ cô lại, lắc đầu.
Phó Uyển Thanh rót cho cô một ly nước, đặt ở đầu giường: “Không sao đâu, cậu cứ ngủ một lát trước đi, tớ nhất định sẽ có cách cho cậu đi khám bệnh, không thể để cậu sốt chết ở chỗ này được.”
Cô ấy sốt đến mức đã mơ màng rồi, không biết Uyển Thanh ra khỏi cửa thế nào, có mặc kỹ áo phao hay không.
Chỉ là sau cái chết đi sống lại vì đau đớn, cô ấy nghĩ đến bài thiết kế tốt nghiệp cuối cùng của mình, thầy giáo từng khen cô cải tiến áo sườn xám rất có ý tưởng sáng tạo, những bản vẽ đó hiện giờ vẫn còn nằm trong máy tính. Mà công việc hiện tại của cô lại là mỗi ngày dỡ những chiếc áo thun T-shirt phiên bản Hàn Quốc ra khỏi thùng các-tông, treo lên giá quần áo, rồi nói với những cô gái da trắng mặc quần yoga rằng:
”This one is so cute on you.” (Chiếc này cậu mặc đáng yêu lắm.)
Không biết đã qua bao lâu, cô khát không chịu nổi, gượng nhỏm người dậy định tự đi rót nước thì cửa căn hộ mở ra. Là Phó Uyển Thanh trở về lúc nửa đêm, cô ấy bị cóng ở bên ngoài rất lâu, hai tay đều đã cứng đờ.
Gương mặt Phó Uyển Thanh trắng bệch yếu ớt, nhưng lại nói với cô bằng giọng điệu vô cùng phấn khởi: “Giai Giai, chúng ta có tiền rồi. Tớ kiếm được tiền rồi, mau mặc quần áo vào, tớ đưa cậu đi khám bệnh, nhanh lên.”
Sau này Tổ Giai mới biết, cô ấy nghe bạn học giới thiệu cho một công việc làm gia sư kiêm chức, nhưng đối phương vẫn còn đang cân nhắc, chưa quyết định định chính thức. Thế là Phó Uyển Thanh đã canh ở trên con đường mà tổng tài Dương thường đi qua, đội gió lạnh chặn xe của anh ta lại. Tuy rằng vẫn chưa chính thức lên lớp, nhưng sau khi giải thích rõ tình hình, Tổng giám đốc Dương đó đã ứng trước cho cô một khoản thù lao, lại còn phái xe cho cô, bảo cô mau chóng đưa bạn đi gặp bác sĩ, đừng để chậm trễ việc điều trị.
Uyển Thanh chính là quý nhân trong cuộc đời cô.
Sau này khi cô kiếm được tiền và trở về nhà một chuyến, cô cũng đã nói với ba mẹ mình như vậy. Mẹ cô liền lập tức hướng sang bức tường sát vách vái lạy, nói may mà hồi nhỏ có giúp đỡ con bé, rồi lại trách cô quá tự ý, bệnh đến mức đó cũng không chịu than khổ với gia đình.
Tổ Giai gật đầu, nói đây gọi là gieo nhân lành thì gặt quả ngọt.
Căn bếp của ngôi nhà không lớn, trên bậu cửa sổ là cây húng quế do chính tay Phó Uyển Thanh trồng.
Cô múc một đĩa súp ra, bưng đến phòng ăn. Khăn trải bàn là tấm mới thay, làm bằng vải lanh màu trắng gạo, hơi cũ một chút, sau khi giặt sạch mang đi phơi khô thì có mùi hương của ánh nắng mặt trời.
Đĩa sứ đều là do cô chủ nhà trước để lại, mỗi chiếc đều có hoa văn không giống nhau, nhưng khi xếp cùng một chỗ lại hòa hợp một cách kỳ lạ. Dao và nĩa cô cũng đã học được cách bày biện kiểu Pháp:…Răng nĩa hướng xuống dưới, lưỡi dao hướng vào trong, khăn ăn tùy ý đặt một góc, không cần gấp thành bất kỳ hình thù gì. Người Pháp tin rằng, sự thanh lịch đích thực không bao giờ nằm ở hai chữ “cố tình”.
”Nếm thử đi, rượu là do chúng tớ tự sản xuất, không tính là đặc biệt xuất sắc, nhưng dùng để hầm thịt thì đủ xa xỉ rồi.” Phó Uyển Thanh giới thiệu với cô, “Lúc nãy vừa áp chảo xong nạm bò, đổ rượu vang vào một cái là tớ đã cảm thấy say luôn rồi.”
Tổ Giai nếm một ngụm, không ngớt gật đầu: “Thật ra tớ luôn cảm thấy cậu rất có thiên phú trong chuyện bếp núc.”
”Đúng vậy,” Phó Uyển Thanh quẹt một que diêm, thắp sáng giá nến, nói một cách chẳng hề khiêm tốn, “Người thông minh thì làm việc gì cũng đều có thể làm tốt.”
Tổ Giai cười: “Phải, tớ có thể từ chỗ ăn không đủ no lăn lộn đến được ngày hôm nay, đều là vì tớ có vận khí tốt, gặp được cậu.”
”Đừng nói như vậy,” Phó Uyển Thanh lại quay vào bếp, rắc thêm một ít ngò tây băm nhỏ cho cô, “Cậu có rất nhiều ưu điểm, tớ thấy cậu vừa nhiệt tình lại vừa kiên nhẫn, cửa hàng tuyển chọn có thể vực dậy được, công lao của cậu là lớn nhất.”
Tổ Giai đặt thìa xuống, lật mở chiếc túi xách: “Cửa hàng của chúng ta nhượng lại rồi, tiền đều ở trong chiếc thẻ này, cậu cầm lấy đi.”
Phó Uyển Thanh nói: “Cậu cứ giữ lấy bảo quản đi, tớ đang nhắm trúng một mặt bằng ở khu Saint-Germain (*), tiền thuê nhà các thứ vẫn còn phải thương lượng tiếp. Đến lúc đó thuê nhân viên, trang trí đều cần dùng đến tiền, về phương diện này tớ không tinh minh bằng cậu được. Qua hai ngày nữa, đợi cậu nghỉ ngơi đủ rồi, tớ dẫn cậu qua đó đi dạo một vòng, chỉ một mình tớ thấy vừa mắt thì không được.”
(*) Saint-Germain-des-Prés là một khu phố thuộc Quận 6 thành phố Paris.
”Được thôi, cậu đi cùng tớ dạo chơi Paris hai ngày nhé.” Tổ Giai nói.
Phó Uyển Thanh nâng ly nước lên, mỉm cười với cô, nói một câu tiếng Pháp: “Bon appétit.” (Chúc ngon miệng.)
Tổ Giai nghe không hiểu: “Ý là gì thế?”
“Chúc cậu ngon miệng đó.” Phó Uyển Thanh cười nói, “Cậu cũng phải đăng ký một lớp học tiếng Pháp đi thôi, không phải cậu muốn đến đây học nâng cao về thiết kế thời trang sao? Chỉ biết mỗi tiếng Anh thôi là không đủ đâu.”
Bấc nến trên bàn ăn chậm rãi sáng rực lên, ánh lửa hắt những bóng hình lay động lên bức tường nhạt màu.
Phó Uyển Thanh uống vài ly rượu, chống đầu nhìn ra ngoài cửa sổ một cái. Ánh đèn nhà hàng xóm ở phía xa xa lúc ẩn lúc hiện, tựa như những ngôi sao trôi nổi trong đêm tối.
Gan của cô căn bản chẳng lớn là bao. Mấy đêm đầu tiên mới dọn đến đây, mặc dù biết cô út đang ở ngay trên lầu, nhưng cô vẫn sợ, bị tiếng gió thổi vù vù làm cho khiếp hãi đến mức phát sốt nhẹ, liên tục gặp ác mộng.
Cô mơ thấy cỏ cây và tiếng ve kêu ở Hương Sơn, ồn ào đến mức cô cứ lật qua lật lại trên gối, đầu óc bất an xoay chuyển liên tục.
Cô nhìn thấy chính mình đang ngồi dưới gốc cây tùng, giữa những kẽ lá tùng rọi xuống một khoảng trời nhỏ, xanh đến mức chói mắt.
Khi gió núi thổi qua, một luồng mùi đất ẩm ướt trộn lẫn với tiếng nghịch nước trong trẻo, vang dội của những đứa trẻ phía xa xa truyền lại.
Cô đứng bật dậy, cuống cuồng đến mức cả hai chân đều giẫm cả vào trong nước.
Nhìn gương mặt giống hệt như đúc với chính mình, cô lớn tiếng hét lên với đối phương: “Này, cậu đừng bơi ra chỗ sâu nữa có được không, sẽ chết đuối đấy. Tớ xin cậu đấy, cậu mau quay lại đi, tự mình đến mà sống cuộc đời của chính cậu, tớ không muốn sống thay cậu nữa đâu!”
Nhưng cô bé kia không nghe lời cô, cứ liều mạng tiến về phía bên kia bờ sông, mà chân của cô lại lún sâu vào trong lớp cát mịn, một bước cũng không thể bước tới, trơ mắt nhìn dòng nước xiết đánh tới, nhanh chóng nuốt chửng lấy đỉnh đầu của cô bé.
Gào thét đến cuối cùng, cổ họng của Phó Uyển Thanh đều đã khản đặc, nước mắt nước mũi ròng ròng chảy xuống cằm, giữa gối đầu là một mảng ướt đẫm.
Phó Tá Văn lắng nghe tiếng khóc hét thê lương của cô, chân mày nhíu chặt lại.
Bà đứng ở đầu giường, nói với vị bác sĩ người Đức kia: “Hay là cứ uống chút thuốc đi, con bé từ nhỏ đã sợ tiêm rồi, ông cứ kê đơn đi, để tôi đút cho nó.”
“Được.”
Làm cách nào cũng không gọi được Phó Uyển Thanh tỉnh, bà không còn cách nào khác, đành dùng nước ấm hòa tan viên thuốc ra, giống như hồi cô còn nhỏ, từng thìa từng thìa một đổ vào từ khóe miệng cô.
Sáng sớm ngày hôm sau tỉnh dậy, trên người đã không còn khó chịu như trước nữa. Điều đầu tiên Phó Uyển Thanh nhìn thấy chính là cô út, giống như vô số lần đổ bệnh trước đây, ba mẹ đều bận rộn, hoàn toàn là cô út ở bên cạnh giường chăm nom, lau mồ hôi thay quần áo cho cô.
Trong ánh bình minh, gương mặt của cô út lộ rõ vẻ xanh xao mệt mỏi sau một đêm không ngủ.
Cô gọi Phó Tá Văn: “Cô út, cháu muốn uống nước.”
“Muốn uống nước à?” Phó Tá Văn tỉnh giấc, hất tấm chăn ra, ngồi dậy từ chiếc ghế sofa, “Được, để cô đi rót.”
Cô út bước ra khỏi phòng ngủ, Phó Uyển Thanh nghiêng mặt, nhìn vệt sáng đổ xiên xiên trên mặt đất, rồi lại quay đầu, nhìn chằm chằm vào chiếc đèn chùm kiểu cũ trên trần nhà mà ngẩn người.
Cô nghe thấy tiếng giày Mule ma sát trên sàn gỗ tạo ra âm thanh.
Bóng người chậm rãi tiến lại gần, Phó Tá Văn đỡ cô dậy: “Nào, ngồi dậy trước đã, đừng nhỏm dậy mạnh quá.”
Phó Uyển Thanh gượng ngồi vững, chiếc váy ngủ bằng vải cotton trắng đã lệch sang một bên.
Cô đỡ lấy chiếc cốc, uống vài ngụm, muốn nói lời cảm ơn, nhưng lại cảm thấy không mở nổi miệng.
Cô út ngồi xuống bên mép giường, đưa tay lên sờ sờ trán cô, lòng bàn tay mát rượi.
Bà để một lúc lâu mới rút tay về: “Hạ sốt rồi, cháu cảm thấy đỡ hơn chút nào chưa?”
Khúc thời gian đó vẫn đang là mùa hè, những nhành nho ngoài cửa sổ xanh mướt đến phát sáng, những chiếc lá lật qua lật lại trong gió, đưa tới một làn hương thơm thoang thoảng vị đắng nhẹ.
”Cô út.” Phó Uyển Thanh cuối cùng cũng mở miệng, giọng nói rất nhỏ.
Bàn tay của Phó Tá Văn buông thõng bên mép giường: “Chuyện gì?”
Phó Uyển Thanh rủ mắt xuống: “Hôm đó cháu đến tìm cô, những lời cháu đã nói…”
“Đừng nói nữa, lúc đó cháu đang tức giận đến hồ đồ, cô cũng vậy, bất kể cháu từ đâu đến, thì từ lâu cháu cùn đã là cháu gái của cô rồi.” Phó Tá Văn ngắt lời cô, giọng điệu bình hòa, “Sau này cô cũng đều biết cả rồi, có điều cháu cũng thật là bướng bỉnh, nguôi giận rồi cũng không thèm tìm cô út sao, không phải chá đã nhập học, đăng ký ghi danh rồi sao, mọi người đều không biết cháu đang ở đâu, một người cháu cũng không liên lạc.”
”cháu chỉ là,” Phó Uyển Thanh siết chặt chiếc cốc, đầu ngón tay hơi trắng bệch ra, “Chỉ là không muốn lại mắc nợ ai nữa thôi. Chẳng lẽ con dựa vào chính mình thì không sống nổi hay sao chứ.”
”Biết là đầu óc cháu lợi hại rồi.” Phó Tá Văn cũng bất lực, bà đứng dậy, kéo rèm cửa sổ ra, mở cửa sổ cho thoáng khí, “Nhưng cũng không đến mức phải cậy mạnh như thế này, cháu không đến LonDon, cũng không nói cho Văn Khâm biết, nó đã bị dọa cho khiếp vía rồi, giống như bị trúng tà vậy, cứ liên tục lẩm bẩm tự trách bản thân, mắng mình vô dụng, chút chuyện này cũng làm không xong. Chẳng còn cách nào khác, nó cả ngày cầu thần bái Phật, ở nhà lập đàn làm pháp sự, nhìn cứ như là muốn siêu độ cho ai vậy. Ông già Phú Cường của nó ngứa mắt liền túm lấy tẩn cho một trận, rồi bỏ đói hai ngày.”
Ánh mặt trời bỗng chốc ùa vào, cả căn phòng đều sáng bừng lên.
Vườn nho gợn lên sắc xanh pha vàng kim, trải dài tít tắp đến tận sườn đồi phía xa. Những người công nhân đã bắt đầu đi lại trên bờ ruộng, ai nấy đều đội mũ rơm, vác theo công cụ lao động.
”Cho nên cô thấy đấy, bảo sao mẹ anh ấy lại ác cảm với cháu.” Phó Uyển Thanh mở lời trêu đùa một câu.
Nhưng Phó Tá Văn lại mắng thẳng thừng: “Cháu thật là biết đề cao họ quá đấy. Cháu có ăn cơm nhà họ để lớn lên đâu, họ có tư cách gì mà quở trách, bình phẩm! Có khen có chê thì cũng phải đến lượt cô lên tiếng mới đúng. Bốn năm trước không nói, bây giờ thời thế thế gian thay đổi rồi, cháu cũng đã ra nước ngoài, một khắc cũng chẳng thèm dòm ngó tới gã cháu trai có thể gánh vác đại nhiệm kia của nhà họ, càng đừng nói đến Văn Khâm, ai quấn lấy ai cơ chứ.”
Cô út vẫn là cái tính khí này.
Phó Uyển Thanh mỉm cười: “Văn Khâm sau đó có đến New York một chuyến, đều đã nói hết với cháu rồi. Cháu không trách anh ấy, cho dù lúc đó anh ấy có canh chừng cháu lên máy bay đi chăng nữa, cháu cũng không đời nào chịu ở lại LonDon lâu đâu. Đến cả Lý Trung Nguyên cháu còn chẳng muốn mắc nợ, thì càng không đời nào chịu nợ anh ấy.”
”May mà cháu không sao,” Phó Tá Văn vỗ vỗ lên mặt cô, “Bằng không cái ngày cãi vã ầm ĩ thành ra nông nỗi đó, cháu lại bỏ chạy mất dạng như vậy, cô út có mà hối hận chết mất thôi.”
Phó Uyển Thanh nắm lấy tay bà: “Cháu có ông nội bà nội phù hộ, sẽ không có chuyện gì đâu ạ.”
Phó Tá Văn nói: “Được rồi, uống thêm chút nước đi, khóc lâu như thế, cổ họng đều đã khản cả tiếng rồi.”
”Cháu có khóc tiếng nào đâu.” Phó Uyển Thanh vừa nói vừa uống một ngụm nước ấm.
“Chuyện khác thì không có,” Phó Tá Văn im lặng một hồi lâu mới nói, “Cô chỉ là… nghe ngóng được vài câu về Lý Trung Nguyên.”
”Vâng.” Phó Uyển Thanh đặt chiếc cốc xuống, cô khịt khịt cái mũi đang hơi cay cay, “Cô út, cháu muốn ngủ thêm một lát, cô ra ngoài trước đi ạ.”
”Được, cô đi hầm cho cháu ít canh gà, ngủ đi nhé.”
Phó Tá Văn lại kéo rèm cửa sổ lại, rồi khép cửa phòng cho cô.
Bếp lửa trên lò vẫn chưa tắt, nồi hầm vẫn đang kêu sùng sục, hương thơm từng đợt từng đợt tỏa ra ngoài.
Đầu tiên là mùi rượu thơm, tiếp đó là mùi thịt, hòa quyện với hương vị của nguyệt quế và cỏ xạ hương, khiến toàn bộ phòng ăn đều trở nên ấm cúng, dễ chịu.
Phó Uyển Thanh lại vào bếp một chuyến, múc toàn bộ phần còn lại ra bát.
Cô đi trở về bên bàn ăn, ánh nến vẫn đang lay động trong ly rượu vang.
Tổ Giai đã ở đây được ba ngày, ngày nào cũng ngủ đến tận chiều muộn mới tỉnh.
Phó Uyển Thanh cũng không vào đánh thức cô ấy, cô vẫn duy trì thói quen ra ngoài chạy bộ buổi sáng như thường lệ. Chạy xong thì tắm rửa, làm một phần bữa sáng đơn giản, rồi lại bắt đầu đọc sách tiếng Pháp, ghi chép bài tập. Mỗi ngày cô đều cảm thán tới vạn lần, thật may mắn hồi đó không chọn học Ngành Văn học Pháp, nếu không thì riêng cái ải ngôn ngữ này chẳng biết phải vật lộn đến bao giờ mới xong.
”Hôm nay ăn gì thế?” Đến chập tối, Tổ Giai mới đi xuống lầu, đứng tựa vào cửa hỏi cô.
Phó Uyển Thanh cũng không ngẩng đầu lên, vừa lật sách vừa nói: “Dẫn cậu sang nhà hàng xóm làm khách thì thế nào? Lúc sáng chạy bộ, dì ấy có mời tớ sang uống súp cá kiểu Marseille (*), mùi vị khá là đậm đà tươi ngon đấy. Ồ, dì ấy còn rất biết áp chảo gan ngỗng nữa, món thịt bò hầm của tớ cũng là học từ dì ấy đấy.”
(*) “Súp cá kiểu Marseille” thường chỉ món Bouillabaisse, một đặc sản nổi tiếng của thành phố Marseille. Được nấu từ nhiều loại cá biển và hải sản khác nhau. Nước dùng có cà chua, nghệ tây (saffron), thì là, lá nguyệt quế và các loại thảo mộc Địa Trung Hải. Thường ăn kèm bánh mì nướng và sốt rouille (một loại sốt tỏi có màu vàng cam). Ban đầu là món ăn của ngư dân, dùng những loại cá không bán được để nấu thành một nồi súp đậm đà.
Tổ Giai gật đầu: “Được chứ, đợi tớ thay bộ quần áo tử tế để sang nhà người ta làm khách đã.”
”Ừm, cậu có thể chuẩn bị trong vòng nửa tiếng.”
Đến gần sáu giờ rưỡi, hai cô gái mới khoác tay nhau ra khỏi cửa.
Trời đã tối hẳn xuống, nhà của dì hàng xóm cách đây khá xa, bên lề đường lại không có mấy cột đèn, Tổ Giai cứ liên tục kéo chặt lấy Phó Uyển Thanh, bảo là sợ hãi.
Phó Uyển Thanh nắm chặt tay cô ấy: “Không sao đâu, cậu cứ mạnh dạn mà đi. Ở đây tổng cộng cũng chẳng có mấy hộ gia đình, ma còn chẳng buồn đến chỗ này để dọa người đâu, không hoàn thành nổi KPI đâu mà sợ.”
Tổ Giai nói: “Cậu đừng có nhắc đến ma, nhắc đến ma tớ càng hoảng hơn đấy, lại còn kể chuyện cười lạnh nữa chứ.”
Tổ Giai nép sát vào người cô mà đi.
Đi được khoảng năm sáu trăm mét, cô nhìn thấy một chiếc xe hơi đang đỗ bên vệ đường, đèn xe cũng đã tắt, không rõ có người ở trên xe hay không.
Cô tò mò hỏi: “Xe ở đâu ra thế nhỉ? Lại còn là một chiếc Bentley thấp thỏm, khiêm tốn thế này, đến mua rượu à?”
“Không biết nữa, làm gì có ai đi mua rượu vào buổi tối chứ, chắc là khách du lịch từ trong thành phố đến thôi.” Phó Uyển Thanh ngẩng đầu lên, chỉ chỉ về phía trước, “Sắp đến rồi kìa, căn nhà đang sáng đèn ở đằng kia kìa.”
Đợi sau khi hai người họ đi qua, chiếc xe mới một lần nữa sáng đèn lên.
Tài xế ngồi trên xe, quay ra sau hỏi vị đang nhắm mắt dưỡng thần ở ghế sau: “Ngài có muốn qua đó bây giờ không ạ?”
Người đàn ông gật đầu.
Chiếc xe tiến về phía trước một đoạn, cuối cùng dừng lại ở bên ngoài ngôi nhà của Phó Uyển Thanh.
Cánh cửa xe mở ra, không khí lạnh lập tức ùa vào bên trong.
Người đàn ông trẻ tuổi, cao lớn bước xuống xe. Khi ngụm không khí đầu tiên của trang trại rượu vang tràn vào lồng ngực, cái lạnh buốt khiến anh phải khẽ nhắm mắt lại.
Trong màn đêm tăm tối, mùi đất ẩm, mùi gỗ mục, cùng một luồng vị chua chát đặc trưng không thể gọi tên của hầm rượu cứ thế lắng sâu vào tận sâu trong cổ họng anh.
Hóa ra mấy tháng nay, cô vẫn luôn trốn ở nơi này, trải qua những chuỗi ngày cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài.
Phía xa xăm không một tiếng động nhỏ nào lọt lại, anh đứng lặng yên tại chỗ. Gió từ phía đồn điền trồng nho thổi tới, cuốn theo những chiếc lá rụng trên mặt đất, thổi tung một góc chiếc áo khoác măng tô bằng len dạ của anh

Leave a Reply