[PND] 49

Chương 49 : 6167 chữ ☆(☢‿☢)☆

Buổi tiệc rượu cuối cùng của năm, Lý Trung Nguyên vẫn đến góp mặt.

Vẫn là chốn cũ, La Tiểu Dự mời không ít người, toàn là những gương mặt quen thuộc, chiếc ghế chủ tọa lúc nào cũng để trống cho anh.

​Sau khi xuống xe, Lý Trung Nguyên dặn tài xế đợi một lát.

Anh đi bộ dưới hành lang, hai chiếc đèn lồng cung đình kiểu cũ treo cao, hắt ra ánh sáng trắng tuyết, rọi lên cây ngân hạnh nơi góc tường, lá cây gần như đã rụng sạch.

​Trong nhà bật sưởi sàn, cửa sổ đều đã được thay bằng loại kính cách âm làm từ vật liệu cũ.

​Quanh chiếc bàn tròn là một nhóm người vây quanh, đều là tình bạn từ thuở nối khố, nay mỗi người tự quản một mảng công việc, hiếm khi mới tụ tập được một lần.

​La Tiểu Dự tự tay đi khui rượu: “Tối nay uống loại này đi, anh trai em mang từ vùng Beaune về đấy, nếm thử xem.”

​”Anh trai cậu đi về có một mình thôi à?” Chu Phúc ngồi bên cạnh hỏi một câu. Nói rồi, anh ta lại liếc mắt nhìn Tạ Hàn Thanh. Lão Tạ đang ngồi trên chiếc ghế bành bèn xua tay, định bảo không bàn chuyện đó nữa, vừa ngẩng đầu lên thì thấy Lý Trung Nguyên.

​Anh liền nói: “Đến rồi kia, cậu đi mà hỏi trực tiếp chính chủ kìa.”

​Lý Trung Nguyên đưa áo khoác ngoài cho phục vụ.

Bên trong anh chỉ mặc một bộ âu phục màu xanh thẫm, không thắt cà vạt, cổ áo sơ mi mở hờ một cúc. Anh tựa lưng vào thành ghế: “Hỏi tôi cái gì?”

​Chu Phúc nháy mắt với lão Tạ: “Hỏi đi.”

​”Tiểu Phó vẫn còn ở Pháp à?” Tạ Hàn Thanh quay đầu sang hỏi.

​”Ừ.” Lý Trung Nguyên gật đầu.

“Cậu về trước rồi à?”

“Đúng vậy.”

​La Tiểu Dự đặt chai rượu xuống, bày ra vẻ mặt không thể tin nổi: “Hồi mùa hè, không phải anh còn bắt cô ấy ngoan ngoãn ở yên đó sao…”

​”Phải đấy,” Lý Trung Nguyên nhìn cậu ta, nói thêm một câu, “Thế cô ấy có chịu ở yên không?”

​La Tiểu Dự nghĩ đến những việc mình từng làm, ngượng ngùng nói: “Không ở yên, không ở yên ạ.”

​Chu Phúc cắt ngang: “Thôi đi, mạch não của cậu với anh trai cậu chưa bao giờ chung một tần số đâu, đừng nói nữa.”

Lý Trung Nguyên nâng ly rượu lên mời anh ta một cái: “Dạo này ổn chứ, nghe nói chú Trịnh khá coi trọng cậu.”

​”Thì cũng như có thêm nửa đứa con trai thôi.” Chu Phúc nói với vẻ mặt nghiêm túc.

Lý Trung Nguyên gật đầu: “Được đấy, thêm một đứa rưỡi này nữa là đủ cho nhà họ nhộn nhịp rồi, ngày nào cũng có kịch hay để xem.”

​Mấy người trên bàn, bao gồm cả chú của amh, đều bật cười.

Bữa ăn mới trôi qua được một nửa, điện thoại của Lý Trung Nguyên vang lên, là cuộc gọi từ Paris gọi về.

​Tạ Hàn Thanh liếc nhìn một cái: “Ai thế?”

“Còn ai vào đây nữa.” Lý Trung Nguyên nói.

​Tạ Hàn Thanh “Ồ” một tiếng: “Thế thì đừng nghe, cô ấy gọi điện vào giờ này chẳng đúng lúc chút nào, cậu có để người ta ăn cơm không hả.”

​”Không nghe không được.” Lý Trung Nguyên cầm điện thoại lên.

​”Tại sao?” Tạ Hàn Thanh nhướng mày, “Đừng nói với tôi là người như cậu mà cũng sợ vợ nhé.”

Lý Trung Nguyên đã đứng dậy: “Tôi sợ chứ.”

​Nhiệt độ bên ngoài rất thấp, gió Tây Bắc lùa vào con ngõ nhỏ mang theo luồng không khí khô hanh, thổi vào mặt có chút buốt giá.

​”Trời tối rồi, đang ăn cơm ở ngoài à,” Lý Trung Nguyên sải đôi chân dài bước đi, “Em không phải là ngủ đến tận bây giờ mới tỉnh đấy chứ?”

​”Làm sao có thể?” Phó Uyển Thanh một tay treo quần áo lên, “Vẫn còn nhiều việc nhẹ nhàng mà, cửa hàng sắp khai trương rồi, em đang dọn dẹp và tổng vệ sinh ở cửa hàng đây.”

​Lý Trung Nguyên hỏi: “Em không biết thuê hai người về làm à?”

Phó Uyển Thanh dùng vai kẹp điện thoại, một tay chỉnh lại chiếc khăn lụa: “Thuê rồi, nhưng dù sao cũng phải giúp một tay chứ, đúng là đồ ông chủ thích phủi tay bỏ mặc mà. Hôm nay anh không tăng ca à, hiếm thấy thật đấy, lại còn ra ngoài gặp ai thế, là ai vậy?”

​Trước đây vào giờ này gọi cho anh, không có lần nào là anh không ở văn phòng. Thêm vào đó là cuối năm nhiều việc, chưa đến chín giờ tối thì đừng hòng anh rời khỏi chiếc ghế đó.

​Lý Trung Nguyên nói: “Có người em thích, cũng có người em không thích, em bảo anh nên nói người nào?”

Phó Uyển Thanh tự mình cũng thấy hoang mang: “Xin hỏi, em thích ai cơ?”

​”Chủ nhiệm Chu nhỏ đấy.”

Khóe môi Lý Trung Nguyên trĩu xuống: “Hồi đại học không phải em đã từng nói với anh cậu ta là người đẹp trai nhất trường theo công nhận của mọi người sao.”

​Cô “Ồ” lên một tiếng đầy vỡ lẽ: “Cậu ấy à, thế thì đúng là…”

“Đúng là cái gì?” Lý Trung Nguyên không thể tỏ ra rộng lượng thêm một giây nào nữa.

​Phó Uyển Thanh cố ý trêu anh: “Đúng là rất hút người khác phái mà. Hồi cậu ta tỏ tình với Giang Tuyết, em đứng trên ban công ký túc xá nhìn xuống, ôi chao, tiếng than khóc vang trời dậy đất luôn đấy.”

​Lý Trung Nguyên nghiến răng: “Ồ, thế em cũng khóc cùng một giuộc với họ à?”

“Em không khóc nhé. Cậu ta tuy đẹp trai nhưng không phải gu của em.” Phó Uyển Thanh vội vàng nói, “Được rồi, Lý Trung Nguyên, người ta chẳng ai đi ghen tuông lồng lộn lên như thế đâu. Anh ngủ sớm chút đi, nhớ uống thuốc đấy, em bận tiếp đây.”

​Khi Tạ Hàn Thanh đi ra ngoài, gã thấy Lý Trung Nguyên đang đứng bên cột hành lang. Dưới ánh sáng trắng, đường nét cằm anh trông thật cứng cỏi, thần sắc tĩnh lặng.

​Nơi khoảng sân, những cành ngân hạnh khẽ lay động trong gió, bóng trăng trên tường viện cũng chao đảo theo.

​Lão Tạ hỏi với giọng nghiêm túc: “Thay đổi lớn đến thế sao, Trung Nguyên?”

“Không đổi.” Lý Trung Nguyên đáp.

​”Không đổi mà cậu lại để cô ấy sống một mình?”

“Cô ấy có việc của cô ấy.”

​Tạ Hàn Thanh liếc nhìn anh một cái: “Trước đây cậu có bao giờ quản cô ấy có việc gì hay không đâu.”

​Lý Trung Nguyên im lặng một lúc.

Khi anh mở miệng lần nữa, giọng nói vẫn mang vẻ lạnh lùng như thường lệ: “Lồng càng khóa chặt thì người ta chạy càng nhanh, không dám khóa nữa.”

​Thay đổi thì không thay đổi, nhưng sau khi bị đánh gãy gân cốt thì đã giác ngộ rồi.

Tạ Hàn Thanh gật đầu, nhìn anh đẩy cánh cửa gỗ chạm khắc bước vào trong, bóng lưng thẳng tắp.

​Lý Trung Nguyên không ở lại đây lâu.

Sau khi ra ngoài, anh lên xe và trực tiếp dặn dò: “Đến Đông Sơn Biệt Thự.”

​Tài xế lái xe từ đường Vành đai 3 vào, chuyển làn hai lần, đoạn cuối cùng là đường núi. Đường nhiều cua, cây cối rậm rạp, lá cây của mùa đông lạnh giá đã rụng sạch, rừng bạch dương hai bên đường trơ trọi đứng đó. Chiếc xe Maybach màu đen lao thẳng qua lớp sương mù thưa thớt, tiến vào bên trong.

​Đến cửa, Lý Trung Nguyên bước xuống xe trong màn đêm.

Anh không gọi điện trước, người của Lý Kế Khai vừa nhìn thấy cậu hai nhà họ Lý đã lâu không lộ diện thì đều giật nảy mình.

​Lý Trung Nguyên vóc dáng cao ráo, sải bước dài đi xuyên qua từng lớp cửa.

Căn nhà này đã mua được nhiều năm, diện tích không nhỏ, bên ngoài là một bức tường gạch xám, bên trong mô phỏng theo kiến trúc cuối thời nhà Thanh với mái hiên cong và hành lang gấp khúc, trong sân trồng vài cây tùng, mùa đông trông vẫn xanh tốt như thường.

​Thư ký Vi đón anh ở trong sân, nói rằng Chủ tịch đang ở trong thư phòng.

Lý Trung Nguyên “Ừ” một tiếng, đưa áo khoác ngoài qua rồi đi thẳng lên lầu.

​Sau khi rời xa ông nội, anh liền được đón đến căn nhà này. Từng kẽ gạch nơi đây anh đều đã giẫm qua, cũng chính vì thế, anh chẳng muốn nán lại dù chỉ một giây.

​Thư phòng nằm ở phía Tây, đẩy cửa bước vào, hơi sưởi rất ấm, phảng phất một mùi trầm hương thường niên được đốt, bầu không khí có chút già cỗi, trầm uất.

​Lý Kê Khai đang ngồi trên chiếc ghế bành bên cạnh bàn, tay bên cạnh đặt một chén trà.

​Trà đã rót từ lâu, không còn hơi nóng bốc lên nữa, ông ta cũng không uống, đôi mắt khép hờ như đang chợp mắt, ánh đèn chiếu lên khuôn mặt có chút nhợt nhạt của ông ta.

​”Đến rồi à,” Ông ta đã nghe thấy tiếng báo từ sớm, “Trung Nguyên, bao lâu rồi cậu không đến chỗ tôi, đến thăm ba cậu thế này.”

​Lý Trung Nguyên bước vào với vẻ mặt mệt mỏi, nhìn chăm chú vào ông ta.

Tóc ông ta vẫn chưa bạc trắng hoàn toàn, mặc một chiếc áo len mặc nhà có khuy cài màu sẫm, thoạt nhìn giống như một người già không màng thế sự.

​Anh cười lạnh trong lòng, khóe môi cũng khẽ 7nhếch lên một chút.

Lý Trung Nguyên hiểu rõ hơn ai hết, cái bộ dạng này đáng giá bao nhiêu tiền.

​”Ngồi đi, đến nhà mình rồi, đừng đứng đó.” Giọng Lý Kê Khai không lớn nhưng tràn đầy sinh lực (*)

(*) Nguyên gốc 中气很足 : Trong Đông y, 中气 còn chỉ khí lực của tỳ vị và cơ thể nói chung, nên khi nói ai đó 中气不足 thì có nghĩa là người đó yếu sức, dễ mệt, nói nhỏ, thiếu năng lượng còn 中气很足 nghĩa là Khỏe khoắn, tinh thần sung mãn.

​Lý Trung Nguyên đút hai tay vào túi quần tây, đứng định hình trước bàn làm việc: “Không cần ngồi đâu, lời tôi muốn nói rất ngắn, nói xong sẽ đi ngay.”

​Lý Kế Khai lúc này mới mở mắt ra, đôi nhãn cầu đục ngầu chuyển động, liếc nhìn anh một cái.

Đứa con trai út này chẳng giống ông ta chút nào, thay vào đó, anh giống người mẹ có tính cách kiên cường bất khuất của mình hơn, chỉ có điều sinh ra với diện mạo nam tính, dung hòa đi hàng lông mày mềm mại kia, biến thành một gương mặt với những đường nét góc cạnh, cứng rắn.

​Ông ta lên tiếng: “Vậy Tổng giám đốc Lý cứ nói đi.”

​Lý Trung Nguyên đứng đó, bộ âu phục phẳng phiu, ánh mắt lạnh đến đáng sợ.

Anh nói: “Mấy ngày tôi không ở Bắc Kinh, hội nghị hội đồng quản trị đã được tổ chức một lần, biên bản cuộc họp tôi đã xem qua rồi.”

​Lý Kê Khai bưng chén trà lên, thổi nhẹ cho bọt trà tan ra: “Tôi chẳng qua chỉ đưa ra một chút ý kiến thôi mà.”

​”Ý kiến của ông,” Lý Trung Nguyên chậm rãi lặp lại bốn chữ này, “Ý kiến của ông chính là khiến ba giám đốc độc lập bỏ phiếu trắng trong dự án đường sắt đô thị Hoa Bắc. Gói thầu trị giá 3,7 tỷ tệ, ông có biết tôi đã phải tranh giành bao lâu, đã phải thức bao nhiêu đêm, có bao nhiêu bộ phận vì nó mà phải tăng ca bán mạng không? Chỉ vì ba cái lá phiếu quái quỷ này, chúng tôi suýt chút nữa đến cả chút nước cặn cũng chẳng có mà húp.”

​Lý Kê Khai giải thích với anh: “Trung Nguyên, tôi nhận thấy dự án Hoa Bắc này rủi ro quá cao, tôi làm vậy là vì…”

​”Vì cái gì trong lòng ông tự rõ, ông còn rõ hơn cả tôi nữa kìa,” Lý Trung Nguyên ngắt lời ông ta, giọng nói không chút gợn sóng, “Ba người đó ông móc nối từ bao giờ, khi nào rảnh tôi sẽ điều tra rõ ràng. Tôi nói lại lần cuối cùng, đừng lúc nào cũng nghĩ đến chuyện giữ chỗ cho thằng cả của ông. Ngày nào tôi còn sống thì tập đoàn tuyệt đối không có chỗ cho hắn lên tiếng.”

​Thư phòng im ắng trong chốc lát.

Những làn khói trầm hương lững lờ nổi trôi từng sợi, cây tùng ngoài sân lay động trong gió, tuyết chưa tan hết đè nặng trên đầu cành phát ra một tiếng “sột soạt” rồi không gian lại chìm vào tĩnh lặng.

​Lý Kê Khai im lặng hồi lâu rồi khẽ cười một tiếng: “Những cái khác thì anh không học được, riêng cái khoản không màng người thân này thì đúng là sóng sau xô sóng trước…”

​”Ông câm miệng đi!” Như đã cạn sạch kiên nhẫn, Lý Trung Nguyên giơ tay hất đổ bể cá cảnh đặt trên chiếc bàn trà nhỏ góc phòng. Anh lớn tiếng quát mắng: “Nó, và cả ông nữa, tính cái mớ bòng bong gì mà đòi làm người thân!”

​Mấy chiếc bóng màu đỏ cam trong bể cứ thế bị hất văng xuống nền gạch, rời khỏi nước, chúng kinh hoàng áp sát mặt đất, thân hình ra sức quẫy đạp.

​Lý Kê Khai cười lạnh một tiếng: “Phải rồi, anh chỉ thân với người nhà họ Phó thôi, anh là do nhà họ nuôi lớn mà.”

​”Đây chính là chuyện thứ hai tôi muốn nói,” Lý Trung Nguyên tiến lên một bước, chống tay xuống bàn làm việc, ánh mắt nhìn thẳng không né tránh vào mặt ông ta, đôi đồng tử đen kịt, “Người phụ nữ họ Phương mà ông vừa mắt đó, tôi sẽ không cưới. Sau này nếu tôi còn nghe thấy những lời đại loại như vậy thì đều tính lên đầu ông hết, đừng trách tôi ở bên ngoài không nể mặt ông.”

​Sắc mặt Lý Kê Khai bỗng chốc cứng đờ, đối mặt với sự ép buộc thế này, ông ta uất ức đến mức không dám nổi trận lôi đình.

Chỉ vì gương mặt của đứa con trai út lúc này còn lạnh lẽo hơn cả khí hậu giá rét ngập tràn tuyết trắng ngoài kia.

​Ông ta còn phải hạ giọng khuyên nhủ: “Trung Nguyên, đừng thấy ai cũng nể mặt anh, ai cũng gọi anh một tiếng anh em mà anh nghĩ bản thân mình đã có bản lĩnh chọc trời. Nhà họ

Phương hiện giờ đang ở vị thế nào, trên tay tập đoàn đang đè nặng bao nhiêu dự án cần phê duyệt, cần cấp vốn, trong lòng anh chắc phải rõ hơn tôi chứ…”

​Đúng là nói chuyện không hợp nhau nửa câu cũng thấy phiền.

Lý Trung Nguyên nhắm mắt lại rồi lại mở ra: “Ba cô ta còn ngồi cái ghế đó được mấy nhiệm kỳ nữa? Đợi đến khi đổi một người khác lên, chẳng lẽ tôi lại phải đổi một cô vợ khác sao? Cũng chỉ có hạng sâu mọt nước nhà như ông mới không coi chuyện cả đời của con gái nhà người ta ra gì, mới nghĩ ra cái hạ sách thất đức này! Tôi nói với ông lần cuối cùng, dự án của tập đoàn tôi tự có cách giải quyết, không cần phải đến trước mặt nhà nhạc phụ tương lai mà quỳ lạy van xin.”

​Bị vạch trần một cách đột ngột và thẳng thừng, sự bình tĩnh giả tạo của Lý Kê Khai không thể duy trì được nữa, ông ta ngồi phịch trên ghế, thở hồng hộc.

Ông ta cũng biết rõ, lời của Lý Trung Nguyên một khi đã thốt ra thì trước giờ chưa từng có chuyện nể nang ai, anh nói không nể mặt là chắc chắn sẽ chọc thủng trời.

​Ngoài cửa sổ có bóng chim vỗ cánh bay qua, cất cánh từ cây tùng rồi biến mất vào màn đêm.

​Lý Trung Nguyên đứng thẳng người dậy, chậm rãi nói: “Lý Kê Khai, tốt nhất ông nên ghi nhớ kỹ lời tôi, đỡ cho đôi bên làm ầm ĩ lên lại để cho cấp dưới nhìn vào làm trò cười. Ông không muốn đến cả chỗ này cũng sống không yên ổn, muốn tôi đổi cho ông một nơi khác đúng không?”

​Hai cha con lườm nhau vài giây, cuối cùng vẫn là Lý Trung Nguyên dời mắt đi trước, anh lạnh lùng quay đầu bước đi.

​Tiếng bước chân trong hành lang càng lúc càng gần, quản gia đứng đợi ở bên ngoài một lúc mới thấy Lý Trung Nguyên đi ra, bèn cung kính đưa chiếc áo khoác ngoài cho anh.

​Sau khi mặc vào, anh không nhanh không chậm bước ra giữa sân, bóng dáng cao ráo thẳng tắp nhanh chóng biến mất trong màn sương đêm.

​Cái bóng lưng tuyệt tình này, quản gia đã được chứng kiến từ khi anh còn rất nhỏ rồi.

Nơi này chẳng giữ nổi thứ gì của anh, và cũng chẳng có thứ gì áp chế được anh cả.

​Ông lão vội vã chạy nhỏ bước vào thư phòng, Lý Kê Khai lúc này đang nằm rũ rượi trên ghế, cả người giống như vừa bị rút cạn dưỡng khí, lưng còng hẳn xuống, không thể gồng nổi cái dáng vẻ đạo mạo thường ngày nữa.

​”Chủ tịch,” Quản gia đỡ ông ta dậy, “Để tôi đi rót cho ngài chén trà nhé.”

​Ông chưa từng thấy Lý Kê Khai có bộ dạng thế này bao giờ.

Những năm tháng trước đây đi theo ông ta, chỉ thấy ông ta thường xuyên đập bàn trong các cuộc họp, mắng mỏ đám thư ký đến mức ai nấy đều im như phếch, nửa đêm ba giờ sáng vẫn gọi điện thoại với giọng điệu lạnh lùng, cứng rắn, không cho phép ai nghi ngờ.

​Lý Kê Khai lắc đầu, tay ấn lên lồng ngực: “Ông đi gọi bác sĩ đến đây đi, bị thằng ranh con đó chọc tức vài câu, tim tôi thấy không được khỏe lắm.”

“Vâng, tôi đi ngay đây.”

​Ngày chủ nhật đầu tiên sau Tết Dương lịch.

Paris vẫn chưa thoát khỏi bầu không khí của đêm giao thừa, những món đồ trang trí Giáng sinh trong các tủ kính trưng bày vẫn chưa gỡ xuống hết, những ngôi sao màu vàng kim vẫn treo trên tấm kính.

​Ngày đầu tiên khai trương, Phó Uyển Thanh và Tổ Giai đã bắt đầu bận rộn từ sáng sớm.

Bức tường bên ngoài không hề tu sửa, đó là một kiến trúc cổ từ thế kỷ mười chín với hai tầng lầu, những ô cửa sổ hình vòm, lớp tường màu trắng kem đã bong tróc vài chỗ, mang lại cảm giác của sự lắng đọng thời gian.

​Biển hiệu rất nhỏ, nền trắng chữ đen, là do Phó Uyển Thanh nhờ Lý Trung Nguyên thiết kế. Cô phải nói rã cả bọt mép anh mới chịu ra tay, nét chữ thanh mảnh và đầy tiết chế, nhìn từ xa trông giống như một dòng thơ ngắn.

​Cô đứng ở cửa nhìn một lát. Cách bày trí trong tủ kính trưng bày là thứ mà tối qua hai người đã bàn bạc tới lui nhiều lần: một chiếc áo khoác len cashmere màu đỏ mâm xôi được treo ở vị trí bắt mắt nhất, đây cũng là mẫu chủ đạo cho mùa đông của họ; Tổ Giai đã phối nó với một chiếc quần ống rộng màu xám khói cùng một chiếc túi xách do chính cô thiết kế.

​Mười giờ mới mở cửa, nhưng ngoài cửa từ hơn chín giờ rưỡi đã có người đứng đợi.

​Vài cô gái quấn khăn len dày đang chụp ảnh trước cửa tiệm, một chàng trai khác thì đeo túi đựng máy ảnh đứng lùi ra xa hơn một chút.

Phó Uyển Thanh đã nhận ra họ, chàng trai đó là khách quen trên Instagram của cô, bài đăng nào của cô anh ta cũng vào để lại bình luận và viết những lời đánh giá bằng tiếng Pháp, lúc nào trông cũng rất nghiêm túc.

​Sự trùng hợp ngẫu nhiên là, tài khoản của cửa hàng họ lại do Phó Uyển Thanh tùy ý lập ra từ hồi còn học cao học.

​Ban đầu, cô chỉ đăng những bức ảnh chụp lại trải nghiệm đi khảo sát các cửa hàng của bản thân, hay những món đồ săn được ở chợ đồ cũ lên đó, chứ không hề có ý định kinh doanh nghiêm túc. Thế nhưng dần dà lại có người vào xem, có người vào hỏi món này mua ở đâu, đôi giày kia là thương hiệu gì. Cô lần lượt trả lời từng người, về sau trả lời không xuể nữa nên đã đổi thành mỗi tuần đăng một danh sách mua sắm chi tiết, đính kèm cả nơi sản xuất, bối cảnh của nhà thiết kế, cũng như lý do lựa chọn món đồ này để phối đồ. Lượng người hâm mộ cứ thế tăng lên từ từ, giờ đây tài khoản này đã trở thành tài khoản vận hành chính thức, sở hữu gần hai trăm nghìn lượt theo dõi.

​Thời gian khai trương cùng với địa chỉ của cửa hàng mới đều đã được Tổ Giai thông báo từ trước.

Các lượt bình luận ở bên dưới suốt cả ngày không hề ngắt quãng, ai nấy đều hừng hực khí thế muốn đến đây để check-in.

​Đúng mười giờ, họ mở toang cửa tiệm.

Luồng không khí lạnh tràn vào cùng tốp khách đầu tiên mang theo hơi thở của Paris tháng Giêng, gió lạnh hòa quyện cùng hương thơm của bánh sừng bò phết bơ thoang thoảng bay đến từ quán cà phê phía xa.

​Phó Uyển Thanh đứng ở cửa, gật đầu chào họ và nói: “Chào mừng quý khách, cứ tự nhiên vào xem ạ, hãy tìm một chỗ để ngồi nhé.”

​Người đến mỗi lúc một đông, hành lang bắt đầu có chút chen chúc. Hai nhân viên cửa hàng bận rộn bên trong, người thì sắp xếp lại giá treo đồ, người thì tìm size cho khách, trả lời các câu hỏi. Thỉnh thoảng có cô gái trẻ cầm một chiếc áo len cashmere lên, đứng trước gương ướm thử rồi ngắm nghía mãi. Phó Uyển Thanh đứng bên cạnh quan sát, cô không thúc giục, cũng không tiến lên làm phiền.

​Cô không thích việc cố tình chèo kéo để thúc đẩy khách hàng tiêu dùng, cô không hạ được cái tôi thanh cao của một người làm văn chương xuống. Đôi khi cô còn khuyên những ai đang phân vân chưa quyết định được rằng, nếu chưa suy nghĩ kỹ thì cứ về nghĩ thêm vài ngày, chụp lại bức ảnh mang về nhà cân nhắc, đỡ cho việc mua về tay rồi lại hối hận; việc khảo sát giá cả giữa ba bên trước khi mua lúc nào cũng không sai vào đâu được.

​Vì chuyện này mà Tổ Giai luôn cằn nhằn cô: “Cậu làm ăn buôn bán kiểu gì thế hả, chúng ta sắp phải húp gió Tây Bắc đến nơi rồi, hay là cậu đi viết blog cho tài khoản công khai đi thôi. Khách vào cửa cứ để mình tiếp đón, mình tuyệt đối sẽ không để họ ra về tay không, không mua quần áo thì cũng phải mua một món phụ kiện.”

​Gần đến chập tối, khách khứa cũng lục đục rời đi gần hết.

Phó Uyển Thanh đứng sau quầy thu ngân, khi ngẩng đầu lên thì nhìn thấy một người dì đang đứng trước tủ kính trưng bày. Ánh sáng màu vàng nhạt chiếu nghiêng lên người bà, bên dưới chiếc áo khoác dáng dài màu đen là một vóc dáng mảnh mai, thanh gầy, nơi cổ có đeo một chiếc dây chuyền mặt kim cương nhỏ nhắn.

​Bà cứ đứng lặng nhìn chiếc áo khoác màu đỏ mâm xôi kia với dáng vẻ chăm chú, giống như một vũ công ba lê đang đứng trên sân khấu đợi đến giờ mở màn, khí chất thanh tao, thoát tục.

​Phó Uyển Thanh đặt món đồ trên tay xuống rồi bước ra ngoài.

Cô khẽ mỉm cười, dùng tiếng Anh hỏi bà: “Dì ơi xin chào, xin hỏi dì có phải là người Trung Quốc không ạ?”

​Người dì nói tiếng Trung, giọng nói mang theo chút khàn khàn dịu nhẹ: “Phải, sao cháu biết?”

“Là do thần thái ạ, với lại chiếc trâm cài tóc bằng gỗ đào trên đầu dì cũng rất đặc biệt nữa.” Phó Uyển Thanh nói.

​Bà mỉm cười: “Mua từ nhiều năm trước rồi, ở Kyoto, chùa Kiyomizu.”

Phó Uyển Thanh “Ồ” lên một tiếng: “Cháu cũng từng đến đó rồi, ngôi chùa cổ kính lắm. Bên ngoài lạnh thế này, dì có muốn vào trong ngồi một lát không ạ? Không mua đồ cũng không sao đâu, cháu rót cho dì ly nước ấm để xua bớt cái lạnh nhé.”

​”Được chứ.”

Người dì đi theo cô vào trong cửa hàng, bà chỉ tay vào một chiếc váy len dệt kim: “Làm phiền cháu lấy chiếc đó cho tôi xem thử, liệu có hợp với một bà già như tôi không?”

​Phó Uyển Thanh mỉm cười: “Dì trông chẳng già chút nào cả ạ.”

​Bà cũng mỉm cười theo, nơi khóe mắt hằn lên vài nếp nhăn mảnh khó lòng nhận ra, nhưng trong đôi mắt ấy lại có một sự thuần khiết tinh khôi không hề vướng bận dấu vết của tuổi tác.

​Tổ Giai đưa chiếc váy cho bà: “Bộ này trông rất hợp với dì đấy ạ, phòng thử đồ ở phía bên kia.”

“Được, để tôi đi thử xem sao.” Người dì đứng dậy bước đi.

​Lúc bà đi lại, sống lưng thẳng tắp, xương quai xanh thanh tú, phần cằm và cổ luôn tạo thành một góc độ vô cùng tao nhã. Đó không phải là dáng vẻ cố tình gồng mình tạo dáng, Tổ Giai nhìn theo không khỏi trầm trồ tán thưởng: “Thời trẻ, dì ấy chắc chắn là một đại mỹ nhân.”

Phó Uyển Thanh khẽ gật đầu đồng tình.

​Khi người dì thay đồ xong bước ra, bà đứng trước gương.

“Khá là vừa vặn đấy.” Ánh mắt của Phó Uyển Thanh dời từ phần vai xuống eo bà.

​Bà cũng “Ừ” một tiếng, rồi quay sang chăm chú ngắm nghía Phó Uyển Thanh: “Cháu bao nhiêu tuổi rồi, cô bé?”

“Cháu hai mươi sáu ạ,” Phó Uyển Thanh khựng lại một chút, “Qua Tết này là tính sang tuổi hai mươi bảy rồi.”

​Người dì lại hỏi: “Cửa hàng này, cháu là bà chủ à?”

“Cháu chung vốn mở cùng bạn ạ,” Phó Uyển Thanh khẽ vén tóc, “Bình thường đều do cô ấy quán xuyến là chính, cô ấy đảm đang hơn cháu nhiều, cháu chỉ làm trợ thủ phối hợp thôi.”

​Người dì dường như có rất nhiều câu hỏi: “Vậy phần giới thiệu trên trang web của các cháu là do ai viết?”

“Là cậu ấy viết đấy ạ,” Tổ Giai ghé sát lại nói, “Người cộng sự này của cháu học ngành Văn học, sắp tới còn sang Cambridge học lên Tiến sĩ nữa cơ.”

​”Tốt lắm,” Người dì nhìn cô đầy tán thưởng, “Diện mạo tốt, tính cách lại dịu dàng, khí chất học thức, phương diện nào cũng không chê vào đâu được.”

Được khen như vậy khiến Phó Uyển Thanh có chút ngại ngùng: “Dì quá khen rồi ạ.”

​Sau khi mua đồ xong, người dì xách túi giấy ra về.

Lúc họ chuẩn bị đóng cửa tiệm, ánh đèn đường nhuộm thắm con phố, khiến khung cảnh trông giống như một tấm bưu thiếp nhuốm màu thời gian.

​Tổ Giai hừng hực khí thế nói: “Không ngờ lại đông người đến thế, biết vậy đã nhập thêm nhiều hàng hơn một chút.”

“Tối nay về rồi đặt thêm, mình thức cùng cậu chọn đồ.” Phó Uyển Thanh hà một hơi ấm vào lòng bàn tay, “Giai Giai, dịp Tết này tớ phải về nước một chuyến để tham dự đám cưới của một người bạn, còn cậu thì sao?”

​Tổ Giai lắc đầu: “Tớ không về đâu, tớ muốn đón mẹ sang Paris chơi, bà vẫn chưa một lần ra nước ngoài.”

“Thế thì tốt quá, vừa vặn lúc tớ không có nhà, dì có thể ngủ ở phòng của tớ.” Phó Uyển Thanh cũng vui lây cho bạn.

​Tổ Giai cười hì hì nhìn cô: “Chỉ đợi cậu lên tiếng câu này thôi đấy, tớ ngại chẳng dám mở lời trước, cảm ơn cậu nha.”

“Không có gì đâu, dịp năm mới phải vất vả cho cậu rồi.”

​Tổ Giai vội ngắt lời cô: “Đừng khách sáo thế, cậu không ở cửa hàng, mình lại bớt đi một người chuyên đi bàn lùi chèo kéo khách đấy. Mình thì chẳng bao giờ khuyên khách cân nhắc đâu, chỉ mong họ lập tức rút hầu bao ra thôi.”

​Phó Uyển Thanh bật cười trước sự đáng yêu của bạn: “Đi thôi, tớ mời cậu đi ăn cơm. Nhường cậu gọi món đấy, suốt cả buổi cậu phải tự giao tiếp với phục vụ, để mình xem tiếng Pháp của cậu dạo này tiến bộ đến đâu rồi.”

​”Trời ạ, cô Phó,” Tổ Giai tựa hẳn người vào cô, “Cậu không biết là bấy lâu nay tớ toàn phải chật vật học tập bằng cái chỉ số thông minh thấp kém và trí nhớ tệ hại này sao, sao cậu lại nỡ đối xử với tớ như thế chứ.”

​Trước khi về nước, Phó Uyển Thanh đã đến Cambridge một chuyến.

Lấy danh nghĩa là dịp năm mới, cô đến thăm hỏi vị giáo sư hướng dẫn của mình từ sớm và hai thầy trò đã trò chuyện với nhau vài tiếng đồng hồ.

​Cô đến London trước, đi tàu hỏa mất hơn một tiếng. Khung cảnh ngoài cửa sổ nhanh chóng thay đổi, giảm bớt đi sắc xám trắng chủ đạo của chốn đô thị, thay vào đó là những cánh đồng phẳng lặng và bao la, thi thoảng xuất hiện một vài cây cổ thụ đơn độc. Vừa ra khỏi ga, tài xế đã đợi sẵn để đón cô.

​Đó là một người đàn ông nước Anh trung niên, mặc bộ vest sẫm màu. Ông mở lời chào bằng một câu “Xin chào” tiếng Trung mang theo chút chất giọng bản xứ, sau đó mới chuyển sang tiếng Anh, nói rằng đây là do Lý tiên sinh dặn dò trước.

​Phó Uyển Thanh nói với ông: “Tôi có hẹn với Giáo sư vào lúc ba giờ chiều.”

“Được, giờ tôi sẽ đưa cô qua đó.” Tài xế đáp.

​Họ gặp nhau tại một quán cà phê gần khoa Tiếng Anh. Giáo sư từng viết trong thư điện tử rằng: “Khi em đã quen thuộc với Cambridge, em sẽ trở nên thân thuộc với quán cà phê này. Nó tuy không mấy bắt mắt nhưng mọi người đều rất thích lui tới đây.”

​Phó Uyển Thanh đến sớm mười phút.

Trong tiệm có khoảng sáu bảy chiếc bàn, trên tường đóng vài tấm áp phích cũ. Cô lướt mắt nhìn qua, một trong số đó là áp phích về một buổi giảng đường văn học từ những năm bảy mươi, giấy đã ngả sang màu vàng ố.

​Giáo sư Thwaites đến rất đúng giờ. Phó Uyển Thanh ngẩng đầu lên và nhận ra bà ngay, ngoại hình hoàn toàn trùng khớp với bức ảnh trên trang web của viện nghiên cứu: tầm năm mươi lăm tuổi, mái tóc ngắn xoăn đen bóng, đeo kính gọng vàng, mặc chiếc áo khoác dạ kẻ caro, trông rấttinh anh, khỏe khoắn, cảm giác như vẫn có thể tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp văn học thêm hai mươi năm nữa.

​”Phó, Uyển Thanh.” Bà phát âm tiếng Trung rất chuẩn, giống như đã từng học qua từ trước.

​Cô đứng dậy: “Chào Giáo sư ạ.”

“Cứ gọi tôi là Thwaites,” Bà vắt chiếc áo khoác lên lưng ghế, tháo kính xuống lau lau, “Các sinh viên đều gọi tôi như vậy cả. Cứ nghe ai gọi là Giáo sư, tôi lại có cảm giác như sắp có chuyện đại sự gì xảy ra ấy.”

​Thwaites uống cà phê đen, còn cô gọi một tách hồng trà. Cũng không khách sáo nhiều lời, hai người đặt tách trà lên bàn một cái là cuộc trò chuyện đã tự nhiên bắt đầu, giống như hai người quen biết từ lâu tiếp tục nối lại nội dung trong những bức thư điện tử.

​Bà hỏi Uyển Thanh, khung luận văn đã nghĩ đến đâu rồi. Phó Uyển Thanh nói, cô đã tìm được một số tài liệu về Hong Kong những năm năm mươi, sáu mươi, nhưng vẫn còn vài tập hồ sơ lưu trữ hiện tại tra cứu được là đang để ở Đại học Hong Kong. Nếu có thể được nhận vào học, cô dự định sau khi khai giảng sẽ đi một chuyến với tư cách là nghiên cứu sinh tiến sĩ.

​Thwaites gật đầu, ngón tay vô thức xoay xoay tách trà: “Tôi rất có hứng thú với hướng đi của em, nhưng tôi vẫn phải nhắc nhở em, điểm nguy hiểm nhất khi em làm nghiên cứu này nằm ở chỗ phải đồng thời xử lý hai hệ thống truyền thống văn học. Một bên là chủ nghĩa hiện đại Anh quốc, một bên là tính hiện đại của tiếng Hán, hai hệ thống này tuy có điểm giao thoa, nhưng nhìn chung không phải là một chuyện giống nhau.”

​Phó Uyển Thanh lắng nghe, ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Em nghĩ đó là sự thẩm thấu, không thể chỉ so sánh đơn thuần, và cũng không hoàn toàn là tính liên văn bản. Nói thế này thì chính xác hơn, đó nên là một quá trình mà một quan niệm văn học sau khi vượt qua ranh giới ngôn ngữ, sẽ bám rễ và sinh trưởng trong một hệ thống truyền thống khác.”

​​”Tôi thích cách nói này đấy,” Ánh mắt Thwaites chợt sáng lên, “Em nhớ phải thêm câu này vào.”

“Vâng ạ.” Phó Uyển Thanh lấy cuốn sổ tay tùy thân ra, cúi đầu viết vài dòng ghi chú bằng tiếng Anh.

​Họ đã trò chuyện gần như cả một buổi chiều, nói về Woolf, nói về Trương Ái Linh, nói về thứ cảm giác lạc lõng xứ người vĩnh viễn trong trải nghiệm thuộc địa của Mansfield (*) . Cuối cùng, câu chuyện quay trở lại với hướng nghiên cứu của cô. Thwaites nói đây là chuyện tốt, nhưng cũng là chuyện khó, cái khó là ở chỗ phải đồng thời thuyết phục được cả những người làm văn học Anh lẫn những người làm văn học Trung Quốc, mà hiện trạng là cả hai bên đều rất khắt khe, kén chọn.

(*) Mansfield, Texas thường được mệnh danh là một trong những thành phố ngoại ô đáng sống nhất của khu vực Dallas/Fort Worth (DFW).

​Lúc tiễn Giáo sư ra về thì trời cũng đã chập choạng tối.

Tài xế hỏi cô có muốn ở lại một đêm không, bà Morrison đang chuẩn bị bữa tối rồi.

Phó Uyển Thanh gật đầu: “Đi thôi.”

​Cô ngồi lại vào trong xe, gửi tin nhắn cho Lý Trung Nguyên: 「Em đến Cambridge rồi, đã gặp giáo sư hướng dẫn, ngày mai sẽ về nước. Cuối năm bận rộn, anh không cần phải lặn lội chạy qua đây đâu.」

​Gió thổi hiu hiu từ phía River Cam mang theo hơi nước và mùi cỏ khô.

Tiếng chuông trầm ấm, ngân vang từ tòa tháp của một học viện nào đó vọng lại từ xa, lan tỏa trong ánh hoàng hôn của buổi chiều đông.

Leave a Reply

Create a website or blog at WordPress.com

Up ↑

Discover more from Sơn Hà Dĩ Thu

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading